Sơ lược quá trình phát triển lịch sử kinh tế nhân loại

Trong quá trình phát triển kinh tế của nhân loại, từ kinh tế tự nhiên sang phát triền kinh tế hàng hỏa giản đơn, tiến tới kinh tế hàng hóa và giai đoạn cao của nó là kinh tế thị trường

Lịch sử kinh tế là một môn khoa học

Lịch sử kinh tế là một môn khoa học xã hội, nghiên cứu sự phát triển kinh tế của một nước hoặc một nhóm nước qua các thời kỳ lịch sử hay trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.

Khoa học lịch sử kinh tế ngày càng được mở rộng

Các nước phát triển Mỹ, Nhật Bản, Tây Âu đều có những công trình nghiên cứu đồ sộ về lịch sử phát triển kinh tế của nước mình, cũng như sự phát triển kinh tế của các nước trong khu vực và thế giới.

Bản chất của một nền kinh tế

Một nền kinh tế được cấu thành bởi một hệ thống tổng thể các ngành, các lĩnh vực, các chủ thể sản xuất, kinh doanh, các quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ và luôn gắn với một quốc gia hoặc một vùng

Sự phát triển của lịch sử sản xuất

Trong nghiên cứu về sự phát triển của quan hệ sản xuất, lịch sử kinh tế bàn đến cả ba mặt của quan hệ sản xuất là quan hệ sở hữu, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng (1973-1982)


- Sự can thiệp sâu rộng của chính phủ các nước tư bản vào đời sống kinh tế – xã hội đã không còn tương thích trước những biến động của tình hình kinh tế trong nước và thế giới. Chính sách gia tăng chi tiêu của chính phủ nhằm kích cầu đã làm tăng thêm thâm hụt ngân sách nhà nước. Tỷ lệ lạm phát đã tăng đến mức nguy hiểm.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng (1973-1982)

-  Kinh tế đình trệ đi đôi với thất nghiệp và lạm phát cao đã không kích thích được đầu tư. Tốc độ tăng đầu tư tư bản cố định trong các nước tư bản giảm sút nghiêm trọng. Tốc độ tăng năng suất lao động cũng sụt giảm. Mức tăng năng suất lao động trong công nghiệp giai đoạn 1973-1977 so với giai đoạn 1963-1973 ở Mỹ giảm từ mức 2,1% bình quân hàng năm xuống còn 1%; ở Nhật Bản giảm từ 8,9% xuống 1,3%; ở Anh từ 3,9% xuống 1,3%; ở CHLB Đức từ 5,3% xuống 3,6%; ở Pháp từ 5,2% xuống 4%; ở Italia từ 5,6% xuống 0,8%.
- Sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước tư bản và tác động lan truyền của khủng hoảng kinh tế thế giới. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tăng trưởng kinh tế ở các nước tư bản tăng không đều, hầu hết các nước Tây Âu và Nhật Bản tăng trưởng nhanh hơn Mỹ. Mặc dù Mỹ vẫn là cường quốc số một trên thế giới nhưng vị trí kinh tế của Mỹ đã giảm xuống, biểu hiện rõ nhất ở tỷ trọng sản xuất công nghiệp của Mỹ trong sản xuất công nghiệp của thế giới tư bản đã giảm đi tương đối. Thế giới tư bản hình thành ba trung tâm kinh tế là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản cạnh tranh với nhau ngày càng gay gắt. Trong quan hệ thương mại, Mỹ chuyển từ một nước xuất siêu sang nước nhập siêu và nhập siêu ngày càng nhiều với Tây Âu và Nhật Bản. Chế độ tỷ giá hối đoái cố định bị tan vỡ dẫn đến sự bất ổn định của hệ thống tài chính tiền tệ thế giới. Mặt khác, sự tăng trưởng thần kỳ của Nhật Bản gắn liền với việc mở rộng thị trường sang Tây Âu và Mỹ đã dẫn đến những cuộc “chiến tranh thương mại” gay gắt mà Mỹ là người khởi xướng. Kết quả là sự xuất hiện chính sách bảo hộ mậu dịch với nhiều biện pháp khác nhau ở các nước. Điều đó đã ảnh hưởng mạnh đến hoạt động xuất khẩu của các nước. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân hàng năm của các nước tư bản phát triển trong giai đoạn 1965-1973 là 9,5% thì đến giai đoạn 1973-1980 giảm xuống còn 5,6; năm 1981 chỉ đạt 2,4% và năm 1982 giảm xuống mức -1,6%.
- Cuộc đấu tranh giành độc lập về kinh tế và giành chủ quyền về tài nguyên thiên nhiên của các nước đang phát triển. Sau khi giành độc lập về chính trị, hầu hết các nước đang phát triển tiến hành cuộc đấu tranh nhằm giành độc lập về kinh tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào nền kinh tế các nước tư bản phát triển. Thực tế đó đã ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nguyên liệu năng lượng và thị trường tiêu thụ của các nước tư bản phát triển. Đặc biệt là sự kiện các nước trong tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) thực hiện nhiều đạt tăng giá dầu và đòi cồ phần hóa một phần các công ty dầu mỏ của các nước tư bản kinh doanh trên lãnh thổ của họ đã làm cho nhu cầu về nguồn năng lượng này ở các nước tư bản không được đáp ứng đã kéo theo tình trạng khủng hoảng cơ cấu trong nhiều ngành công nghiệp tiêu hao nhiều năng lượng. Mặt khác, từ cuối những năm 1970, một số nước công nghiệp mới ra đời cùng với các nước đang phát triển khác đã đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp cạnh tranh với các công ty hàng đầu thế giới trên thị trường các nước đang phát triển và cả trong các nước tư bản phát triển. Trong thời gian 1965-1980 tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước đang phát triển đã tăng từ 56,5 tỷ USD lên 567,1 tỷ USD, đưa tỷ trọng của các nước này trong thương mại thể giới từ 17,9% tăng lên 28,1%. Thêm vào đó, trong bối cảnh quốc tế hóa nền kinh tế thế giới, với sự di chuyển các luồng tài chính tiền tệ ngoài khả năng kiểm soát của chính phủ đã gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở một số khu vực tác động không nhỏ đến thế giới tư bản. Nhiều công ty xuyên quốc gia, các ngân hàng lớn của các nước tư bản đầu tư ra nước ngoài đều chịu hậu quả trực tiếp của các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đó.
Từ khóa tìm kiếm nhiều: khái niệm về kinh tế thị trường, cach mang cong nghiep

Thực trạng giai đoạn phát triển chậm và bất ấn định (1973-1982)


     Bước vào thập niên 1970, kinh tế các nước tư bản bộc lộ nhiều mâu thuẫn mới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút, bình quân trong những năm 1973-1982 chỉ đạt 2,4%.

Thực trạng giai đoạn phát triển chậm và bất ấn định (1973-1982)

     Mở đầu giai đoạn này là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1974-1975 xảy ra đồng loạt, làm cho sản xuất công nghiệp ở tất cả các nước tư bản giảm trung bình là 11,6%, một số ngành còn giảm nặng nề hơn như luyện kim giảm 26,8%; điện tử, radio giảm 29%; dệt da may mặc giảm 17,7%. Sản xuất công nghiệp ở Nhật Bản giảm 21%, Pháp: 16%; Mỹ: 15%; CHLB Đức 11%; Anh: 10%. Sau đó là những năm phục hồi kinh tế chậm chạp. Nhanh nhất là Mỹ và CHLB Đức cũng cần 1,5 năm mới đạt được mức sản xuất trước khủng hoảng; Nhật Bản mất 2,5 năm, Anh và một số nước khác còn phục hồi chậm hơn, sau đó các nước lại rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế 1979-1982.
     Kinh tế của các nước tư bản rơi vào tình ừạng đình ưệ đi liền vói thất nghiệp và lạm phát cao, đó là hiện tượng khác với Các cuộc khủng hoảng chu kỳ đã từng diễn ra trong lịch sử. Chỉ số tăng của giá cả hàng tiêu dùng bình quân hàng năm ở các nước tư bản trong giai đoạn 1974-1981 là 9,9% so với mức 3,4% trong những năm 1951-1973. Mức thất nghiệp không giảm trong giai đoạn phục hồi kinh tế. Con số đăng ký thất nghiệp chính thức của các nước tư bản phát triển trong năm 1975 là 14,9 triệu người, năm 1976 là 15,3 triệu, năm 1977 là 15,8 triệu, năm 1979 là 18 triệu người. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế 1979-1982 mức thất nghiệp đã đẩy lên tới 23 triệu người năm 1981; 32,5 triệu người năm 1982,
     Khủng hoảng,kinh tế đi liền với khùng hoảng cơ cấu, khủng hoảng năng lượng, khủng hoàng tài chính tiền tệ. Sự tăng trưởng của nhiều ngành sản xuất đã vượt quá giới hạn của thị trường và nguyên liệu. Trong cơ cấu tiêu dùng năng lượng ở các quốc gia công nghiệp chủ yếu là dầu mỏ. Trong vòng hai năm, giá dầu lừa tăng lên hơn 3 lần, từ 2,9 USD/thùng năm 1973 lên 9 USD/thùng năm 1975, sau đó tăng dần lên hơn12 USD/thùng vào năm 1978 và tăng mạnh đến năm 1980 lên tới 30 USD/thùng và 34,87 USD/thùng vào năm 1982. Chỉ riêng năm 1974, theo ước tỉnh của một số chuyên gia, thì các nước tư bản công nghiệp đã bị “rút ruột” khoảng 50 tỷ USD do phải nhập khẩu dầu lửa với giá cao, làm cho nền kinh tế các nước tư bản rơi vào tình trạng đình đốn. Ở Mỹ, trong năm tài khóa 1974-1975 đã có 250.000 công ty phải bán tài sản, trong đó con số phá sản lên đến 25.000, Ở Nhật Bán, số công ty bị phá sản đạt mức kỷ lục là 13.713 với số nợ lên tới 2.077 tỷ yên. Ở CHLB Đức, số doanh nghiệp bị phá sản năm 1975 là 9.195 doanh nghiệp, tăng 22% so với năm trước.
     Hệ thống tài chính tiền tệ vẫn được coi là hệ thần kinh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng lâm vào khủng hoảng. Đồng USD ngày càng mất giá do cán cân thương mại quốc tế của Mỹ chuyển dần từ thặng dư sang thâm hụt. Năm 1971, Mỹ tuyên bố phá giá USD từ 35 USD/ounce vàng thành 38 USD/ounce. Sau đó đồng USD liên tục bị trượt giá so với đồng tiền của các nước tư bản khác. Hệ thống tiền tệ Bretton Woods bị tan vỡ. Bên cạnh đó là tình trạng thâm hụt ngân sách và nợ của chính phủ tăng nhanh