Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng (1973-1982)
10:00
Lịch sử kinh tế
-
Sự can thiệp sâu rộng của chính phủ các nước tư bản vào đời sống kinh tế – xã
hội đã không còn tương thích trước những biến động của tình hình kinh tế trong
nước và thế giới. Chính sách gia tăng chi tiêu của chính phủ nhằm kích cầu đã
làm tăng thêm thâm hụt ngân sách nhà nước. Tỷ lệ lạm phát đã tăng đến mức nguy
hiểm.
-
Kinh tế đình trệ đi đôi với thất nghiệp và lạm phát cao đã không kích thích
được đầu tư. Tốc độ tăng đầu tư tư bản cố định trong các nước tư bản giảm sút
nghiêm trọng. Tốc độ tăng năng suất lao động cũng sụt giảm. Mức tăng năng suất
lao động trong công nghiệp giai đoạn 1973-1977 so với giai đoạn 1963-1973 ở Mỹ
giảm từ mức 2,1% bình quân hàng năm xuống còn 1%; ở Nhật Bản giảm từ 8,9% xuống
1,3%; ở Anh từ 3,9% xuống 1,3%; ở CHLB Đức từ 5,3% xuống 3,6%; ở Pháp từ 5,2%
xuống 4%; ở Italia từ 5,6% xuống 0,8%.
-
Sự cạnh tranh gay gắt giữa các nước tư bản và tác động lan truyền của khủng
hoảng kinh tế thế giới. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, tăng trưởng kinh tế ở
các nước tư bản tăng không đều, hầu hết các nước Tây Âu và Nhật Bản tăng trưởng
nhanh hơn Mỹ. Mặc dù Mỹ vẫn là cường quốc số một trên thế giới nhưng vị trí
kinh tế của Mỹ đã giảm xuống, biểu hiện rõ nhất ở tỷ trọng sản xuất công nghiệp
của Mỹ trong sản xuất công nghiệp của thế giới tư bản đã giảm đi tương đối. Thế
giới tư bản hình thành ba trung tâm kinh tế là Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản cạnh
tranh với nhau ngày càng gay gắt. Trong quan hệ thương mại, Mỹ chuyển từ một
nước xuất siêu sang nước nhập siêu và nhập siêu ngày càng nhiều với Tây Âu và
Nhật Bản. Chế độ tỷ giá hối đoái cố định bị tan vỡ dẫn đến sự bất ổn định của
hệ thống tài chính tiền tệ thế giới. Mặt khác, sự tăng trưởng thần kỳ của Nhật
Bản gắn liền với việc mở rộng thị trường sang Tây Âu và Mỹ đã dẫn đến những
cuộc “chiến tranh thương mại” gay gắt mà Mỹ là người khởi xướng. Kết quả là sự
xuất hiện chính sách bảo hộ mậu dịch với nhiều biện pháp khác nhau ở các nước.
Điều đó đã ảnh hưởng mạnh đến hoạt động xuất khẩu của các nước. Tốc độ tăng
trưởng xuất khẩu bình quân hàng năm của các nước tư bản phát triển trong giai
đoạn 1965-1973 là 9,5% thì đến giai đoạn 1973-1980 giảm xuống còn 5,6; năm 1981
chỉ đạt 2,4% và năm 1982 giảm xuống mức -1,6%.
-
Cuộc đấu tranh giành độc lập về kinh tế và giành chủ quyền về tài nguyên thiên
nhiên của các nước đang phát triển. Sau khi giành độc lập về chính trị, hầu hết
các nước đang phát triển tiến hành cuộc đấu tranh nhằm giành độc lập về kinh
tế, giảm bớt sự phụ thuộc vào nền kinh tế các nước tư bản phát triển. Thực tế
đó đã ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn nguyên liệu năng lượng và thị trường tiêu
thụ của các nước tư bản phát triển. Đặc biệt là sự kiện các nước trong tổ chức
xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) thực hiện nhiều đạt tăng giá dầu và đòi cồ phần hóa một
phần các công ty dầu mỏ của các nước tư bản kinh doanh trên lãnh thổ của họ đã
làm cho nhu cầu về nguồn năng lượng này ở các nước tư bản không được đáp ứng đã
kéo theo tình trạng khủng hoảng cơ cấu trong nhiều ngành công nghiệp tiêu hao
nhiều năng lượng. Mặt khác, từ cuối những năm 1970, một số nước công nghiệp mới
ra đời cùng với các nước đang phát triển khác đã đẩy mạnh phát triển các ngành
công nghiệp cạnh tranh với các công ty hàng đầu thế giới trên thị trường các
nước đang phát triển và cả trong các nước tư bản phát triển. Trong thời gian
1965-1980 tổng kim ngạch xuất khẩu của các nước đang phát triển đã tăng từ 56,5
tỷ USD lên 567,1 tỷ USD, đưa tỷ trọng của các nước này trong thương mại thể
giới từ 17,9% tăng lên 28,1%. Thêm vào đó, trong bối cảnh quốc tế hóa nền kinh
tế thế giới, với sự di chuyển các luồng tài chính tiền tệ ngoài khả năng kiểm
soát của chính phủ đã gây ra các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở một số khu
vực tác động không nhỏ đến thế giới tư bản. Nhiều công ty xuyên quốc gia, các
ngân hàng lớn của các nước tư bản đầu tư ra nước ngoài đều chịu hậu quả trực
tiếp của các cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ đó.
Thực trạng giai đoạn phát triển chậm và bất ấn định (1973-1982)
10:00
Lịch sử kinh tế
Bước vào thập niên 1970, kinh tế các nước tư bản bộc lộ nhiều mâu
thuẫn mới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm sút, bình quân trong những năm
1973-1982 chỉ đạt 2,4%.
Mở đầu giai đoạn này là cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1974-1975 xảy
ra đồng loạt, làm cho sản xuất công nghiệp ở tất cả các nước tư bản giảm trung
bình là 11,6%, một số ngành còn giảm nặng nề hơn như luyện kim giảm 26,8%; điện
tử, radio giảm 29%; dệt da may mặc giảm 17,7%. Sản xuất công nghiệp ở Nhật Bản
giảm 21%, Pháp: 16%; Mỹ: 15%; CHLB Đức 11%; Anh: 10%. Sau đó là những năm phục
hồi kinh tế chậm chạp. Nhanh nhất là Mỹ và CHLB Đức cũng cần 1,5 năm mới đạt
được mức sản xuất trước khủng hoảng; Nhật Bản mất 2,5 năm, Anh và một số nước
khác còn phục hồi chậm hơn, sau đó các nước lại rơi vào cuộc khủng hoảng kinh
tế 1979-1982.
Kinh tế của các nước tư bản rơi vào tình ừạng đình ưệ đi liền vói thất
nghiệp và lạm phát cao, đó là hiện tượng khác với Các cuộc khủng hoảng chu kỳ
đã từng diễn ra trong lịch sử. Chỉ số tăng của giá cả hàng tiêu dùng bình quân
hàng năm ở các nước tư bản trong giai đoạn 1974-1981 là 9,9% so với mức 3,4%
trong những năm 1951-1973. Mức thất nghiệp không giảm trong giai đoạn phục hồi
kinh tế. Con số đăng ký thất nghiệp chính thức của các nước tư bản phát triển
trong năm 1975 là 14,9 triệu người, năm 1976 là 15,3 triệu, năm 1977 là 15,8
triệu, năm 1979 là 18 triệu người. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế 1979-1982 mức
thất nghiệp đã đẩy lên tới 23 triệu người năm 1981; 32,5 triệu người năm 1982,
Khủng hoảng,kinh tế đi liền với khùng hoảng cơ cấu, khủng hoảng
năng lượng, khủng hoàng tài chính tiền tệ. Sự tăng trưởng của nhiều ngành sản
xuất đã vượt quá giới hạn của thị trường và nguyên liệu. Trong cơ cấu tiêu dùng
năng lượng ở các quốc gia công nghiệp chủ yếu là dầu mỏ. Trong vòng hai năm,
giá dầu lừa tăng lên hơn 3 lần, từ 2,9 USD/thùng năm 1973 lên 9 USD/thùng năm
1975, sau đó tăng dần lên hơn12 USD/thùng vào năm 1978 và tăng mạnh đến năm
1980 lên tới 30 USD/thùng và 34,87 USD/thùng vào năm 1982. Chỉ riêng năm 1974,
theo ước tỉnh của một số chuyên gia, thì các nước tư bản công nghiệp đã bị “rút
ruột” khoảng 50 tỷ USD do phải nhập khẩu dầu lửa với giá cao, làm cho nền kinh
tế các nước tư bản rơi vào tình trạng đình đốn. Ở Mỹ, trong năm tài khóa
1974-1975 đã có 250.000 công ty phải bán tài sản, trong đó con số phá sản lên
đến 25.000, Ở Nhật Bán, số công ty bị phá sản đạt mức kỷ lục là 13.713 với số
nợ lên tới 2.077 tỷ yên. Ở CHLB Đức, số doanh nghiệp bị phá sản năm 1975 là
9.195 doanh nghiệp, tăng 22% so với năm trước.
Hệ thống tài chính tiền tệ vẫn được coi là hệ thần kinh của nền
kinh tế tư bản chủ nghĩa cũng lâm vào khủng hoảng. Đồng USD ngày càng mất giá
do cán cân thương mại quốc tế của Mỹ chuyển dần từ thặng dư sang thâm hụt. Năm
1971, Mỹ tuyên bố phá giá USD từ 35 USD/ounce vàng thành 38 USD/ounce. Sau đó
đồng USD liên tục bị trượt giá so với đồng tiền của các nước tư bản khác. Hệ
thống tiền tệ Bretton Woods bị tan vỡ. Bên cạnh đó là tình trạng thâm hụt ngân
sách và nợ của chính phủ tăng nhanh
Từ khóa tìm kiếm nhiều: kinh tế thị trường là gì, cách
mạng công nghiệp,












